congtymoitruong

Just another WordPress.com site

Lập dự án đầu tư vùng Mê Công, dự án mở rộng Tháng Tư 28, 2012

Filed under: Menu — Công ty môi trường @ 4:37 sáng
Tags: , , ,

Dự án đầu tư “Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng Mê Công mở rộng, giai đoạn 2” (lập dự án BCC) nhằm tăng cường hợp tác và quản lý xuyên biên giới các hệ sinh thái rừng giữa các quốc gia trong Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS).

Read More

du an me cong 2

Dự án đầu tư sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), do Bộ Tài nguyên và Môi trường làm cơ quan chủ quản và Tổng cục Môi trường là chủ dự án. Thông qua Dự án sẽ có 34 triệu đô được đầu tư cho hành lang bảo tồn đa dạng sinh học vùng Trung Trường Sơn, Việt Nam.
Ngày 12/1/2012, Hội thảo khởi động Dự án đã được tổ chức tại Hà Nội với sự tham dự của Nhà tài trợ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ ngành và tổ chức có liên quan.

Theo đó, Chính phủ các quốc gia trong GMS với sự hỗ trợ từ ADB đã xác định được các cảnh quan bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng nhất trong tiểu vùng bị tổn thương do gia tăng các áp lực phát triển và suy thoái môi trường. Tại Việt Nam, Dự án sẽ giải quyết vấn đề phân mảnh của các cảnh quan rừng có đa dạng sinh học cao tại miền Trung Việt Nam làm giảm khả năng cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu cần thiết cho sinh kế bền vững của địa phương và đầu tư vào các lĩnh vực tăng cường an ninh lương thực, nước sạch, giao thông và thủy điện. Dự án sẽ thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên bền vững, phục hồi và tăng cường những cảnh quan sinh lợi này. Dự án được thực hiện thông qua các hoạt động phát triển và bảo tồn.
Dự án là giai đoạn II của Dự án thí điểm sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học (BCI) trong GMS đã được nhất trí trong Cuộc họp thượng đỉnh các lãnh đạo khu vực GMS năm 2005 tại Côn Minh và được thực hiện từ 2006 – 2009 tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị trong khuôn khổ hỗ trợ kỹ thuật vùng của ADB (RETA 6289). Dự án sẽ duy trì và củng cố sự kết nối hệ sinh thái rừng giữa Quảng Nam, Thừa Thiên Huế và Quảng Trị ở miền Trung Việt Nam.

Dự án sẽ hình thành một hệ thống hành lang đa dạng sinh học tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế nhằm phục hồi và duy trì tính liên kết của hệ sinh thái trong khu vực (liên kết khu vực 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia) bảo đảm dịch vụ hệ sinh thái rừng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Trung Trường Sơn, đem lại lợi ích sinh kế cho cộng đồng địa phương nhằm phát triển kinh tế khu vực; kế hoạch quản lý khu vực và thực hiện khung chính sách của Trung ương và địa phương nhằm đạt được sự ổn định bền vững của dịch vụ hệ sinh thái; hành lang đa dạng sinh học và các kế hoạch quản lý dự kiến sẽ được thiết lập và đưa vào hoạt động hoàn toàn trong năm 2018.

Dự án sẽ thực hiện tại 34 xã thuộc 6 huyện thuộc 3 tỉnh; tổng dân số của 3 tỉnh năm 2009 ước tính gần 3,1 triệu người; 34 xã có dân số là 72.881 người. Dự án chủ yếu thuộc vùng núi, được bao quanh bởi các khu rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Khu vực dự án chủ yếu là các nhóm các dân tộc thiểu số chiếm từ 77% tại Quảng Trị đến 92% tại Quảng Nam và 91% tại Thừa Thiên Huế. Tất cả các nhóm dân tộc thiểu số trong khu vực dự án thuộc nhóm sử dụng ngôn ngữ Khơ Me. Một phần nhỏ theo các hoạt động sản xuất nông nghiệp du canh của Giẻ Triêng, còn phần lớn chuyển sang thâm canh lúa nước. Trong số 5 nhóm dân tộc thiểu số, người Vân Kiều ở Quảng Trị là dân tộc duy trì hình thức canh tác nương rẫy lâu nhất. Ước tính có 15.500 hộ  gia đình hưởng lợi trực tiếp từ dự án, trong đó khoảng 50% là phụ nữ và 85% là dân tộc thiểu số.

Mục tiêu dài hạn của Dự án là thiết lập được hệ thống hành lang đa dạng sinh học tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế nhằm phục hồi và duy trì tính liên kết của hệ sinh thái trong khu vực (liên kết khu vực 3 nước Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia) bảo đảm dịch vụ hệ sinh thái rừng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Trung Trường Sơn, đem lại lợi ích sinh kế cho cộng đồng địa phương nhằm tăng trưởng kinh tế khu vực. Xây dựng được kế hoạch quản lý và thực thi khung chính sách của trung ương và địa phương, nhằm đạt được tác động lâu dài của dịch vụ hệ sinh thái bền vững và dự kiến thiết lập được các hành lang đa dạng sinh học với các kế hoạch quản lý và đưa vào hoạt động hoàn toàn trong năm 2019.

Mục tiêu ngắn hạn của Dự án là (i) Tăng cường năng lực cho các cấp Trung ương, tỉnh, huyện, xã vùng dự án trong việc quy hoạch hành lang đa dạng sinh học, xây dựng kế hoạch quản lý hành lang và thực hiện kế hoạch;(ii) Phục hồi và trồng rừng nhằm khôi phục tính liên kết của các hành lang đa dạng sinh học và tăng diện tích rừng trung bình – giàu trong 34 xã đã được lựa chọn trong vùng hành lang đa dạng sinh học; (iii) Cung cấp các giải pháp tạo sinh kế và các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ gắn với cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ góp phần giảm nghèo và cải thiện đời sống cho các dân tộc ít người tại các huyện miền núi nghèo của vùng dự án.

Dự án có 4 hợp phần: (1) Tăng cường năng lực thể chế và cộng đồng về quản lý hành lang đa dạng sinh học; (2) Phục hồi hành lang đa dạng sinh học, bảo vệ hệ sinh thái và quản lý bền vững nguồn tài nguyên; (3) Hỗ trợ cải thiện sinh kế và cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ; (4) Quản lý dự án và hoạt động hỗ trợ.

Dự kiến sau 8 năm triển khai Dự án tại 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế dự án sẽ đạt được các kết quả sau:
a. Vào năm 2018, các kế hoạch quản lý, các chính sách về hành lang đa dạng sinh học ít nhất cho 530.000 ha rừng và đất không có rừng tại 34 xã tại Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế được xây dựng;
b. Vào năm 2018, ranh giới được xác định và bản đồ hành lang bảo tồn đa dạng sinh học được lập để duy trì và bảo vệ;
c. Vào năm 2018, khung chính sách và cơ chế quản lý hành lang bảo tồn đa dạng sinh học được xây dựng để duy trì các dịch vụ hệ sinh thái;
d. Vào năm 2018, tăng thu nhập hoặc tài sản cho 50% hộ gia đình được lựa chọn so với năm 2011, ít nhất 30% thành viên ban quản lý hành lang cấp thôn/xã là phụ nữ.

Ở mức độ đầu ra, Dự án sẽ có 4 kết quả đầu ra sau:
Đầu ra 1: Tăng cường thể chế và cộng đồng: (i) kế hoạch quản lý và khung thể chế, chính sách hành lang đa dạng sinh học được xây dựng đến năm 2013 tại ít nhất 530.000 ha đất rừng và đất phi lâm nghiệp ở 34 xã của các  tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ở miền Trung Việt Nam; (ii) Bản đồ sử dụng đất có sự tham gia và kế hoạch đầu tư xã được hoàn thành cho 34 xã ở 6 huyện của 3 tỉnh vào năm 2013 và các đầu tư vào cải thiện đời sống và cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ thực hiện xong vào năm 2018; (iii) giấy chứng nhận sử dụng đất được cấp cho ít nhất 13.700 ha, trong đó 1500 ha của hộ gia đình tư nhân và 12.200 ha chứng nhận quản lý rừng tập thể (nhóm rừng của thôn); (iv) 1500 cán bộ tỉnh, 1350 cán bộ huyện, 5100 cán bộ xã được đào tạo từ các hoạt động của dự án, trong đó phụ nữ chiếm 40% với tỷ lệ lớn là dân tộc thiểu số.
Đầu ra 2: Phục hồi, bảo vệ hệ sinh thái rừng và dịch vụ hệ sinh thái: (i) Đến năm 2016, phục hồi được hơn 10.000 ha đất rừng tự nhiên thông qua phục hồi rừng, làm giàu, lâm sản ngoài gỗ và nông lâm kết hợp sử dụng chủ yếu các loài bản địa và được chăm sóc trong và sau thời gian dự án; (ii) Ít nhất 12.200 ha rừng được tuần tra hiệu quả dựa vào các đơn vị tuần tra của xã để bảo vệ 112.000 ha vùng lõi của hành lang đa dạng sinh học; các hoạt động phục hồi có đóng góp lao động từ phụ nữ tính bằng tiền mặt, cải thiện thu nhập hộ gia đình.
Đầu ra 3: Cải thiện đời sống và hỗ trợ cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ tại các xã mục tiêu: (i) Đến năm 2014, ít nhất 900 hộ gia đình và 2.500 nông dân được nhận tiền mặt và hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao sản lượng nông nghiệp và thu nhập từ vườn nhà, sản xuất nông nghiệp/chăn nuôi và ít nhất 1200 ha rừng trồng phục vụ sinh kế (rừng sản xuất);  (ii) đến năm 2015, 34 xã nhận nguồn tài chính từ Quỹ phát triển xã và hỗ trợ cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ để tăng cơ hội sử dụng nước, sản xuất, thị trường và dịch vụ với năng lực được tăng cường từ O&M và mô hình kinh doanh (du lịch sinh thái, lâm sản ngoài gỗ, chế biến nông nghiệp); (iii) Ban quản lý CDF bao gồm ít nhất 30% là phụ nữ; (iv) đến năm 2015, hoàn thành đầu tư vào cải thiện đời sống và cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ.
Đầu ra 4: Quản lý dự án và các dịch vụ hỗ trợ: (i) thành lập được CPMU tại Bộ Tài nguyên và Môi trường và PPMU tại 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế; (ii) các hoạt động chuẩn bị mua sắm xe cộ và trang thiết bị, tuyển dụng tư vấn; (iii) khoảng 1000 cán bộ được đào tạo về mua sắm, quản lý, tài chính, giám sát và đánh giá; (iv) hoàn thiện báo cáo giám sát định kỳ tiến độ và tài chính đúng tiến độ; (v) xây dựng hệ thống giám sát và hoạt động của dự án vào năm 2012; (vi) nộp đơn xin rút vốn và chứng từ thanh quyết toán đúng hạn; (vii) giải ngân được 45% nguồn vốn ADB vào năm 2012 và 80% vào năm 2016

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s